Bệnh viêm gan B và thai nghén những bà mẹ nên quan tâm

Bệnh viêm gan B và thai nghén những bà mẹ nên quan tâm

Viêm gan B là một bệnh nhiễm trùng phổ biến, do virus tấn công gan và có thể gây ra viêm gan cấp và mạn tính, có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Ước tính trên thế giới hiện này có khoảng tỷ người bị bị nhiễm virus này và hàng năm có 1-2 triệu người tử vong do cá bệnh liên quan đến virus viên gian B. Virus viên gan B không phải bệnh di truyền mà bệnh truyền nhiễm do siêu vi khuẩn gây ra.

Chẩn đoán


Chẩn đoán tập trung vào việc phát hiện kháng nguyên bề mặt viêm gan B HBsAg. WHO khuyến cáo tất cả các mẫu máu hiến tặng đều phải được xét nghiệm viêm gan B để tránh lây truyền cho những người nhận được sản phẩm máu.

Bệnh viêm gan B và thai nghén những bà mẹ nên quan tâm
Nhiễm trùng cấp tính HBV được đặc trưng bởi sự hiện diện của HBsAg và kháng thể immunoglobulin M (IgM) với kháng nguyên lõi, IgM-HbcAg. Trong giai đoạn đầu của bệnh, bệnh nhân cũng có huyết thanh dương tính với kháng nguyên e của virút (HBeAg). HBeAg thường là một dấu hiệu của sự nhân rộng của virút. Sự hiện diện của HBeAg chỉ ra rằng máu và chất dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh là rất dễ lây.
Nhiễm mạn tính được đặc trưng bởi sự tồn tại của HBsAg trong ít nhất 6 tháng (có hoặc không có đồng thời HBeAg). Sự tồn tại lâu dài HBsAg là điểm dự báo chính nguy cơ phát triển bệnh gan mạn tính và ung thư gan (ung thư biểu mô tế bào gan) sau này trong cuộc sống.

Viêm gan B khi mang thai – nguy hiểm cận kề

Khi sản phụ mang thai, gan cũng như mọi cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều có sự biến đổi do tình trạng thai nghén gây nên. Do cơ thể sản phụ sẽ bị giảm sức đề kháng, dễ nhiễm bệnh hơn và với người đã ít nhiều có tổn thương gan thì tình trạng sức khỏe sẽ xấu đi rất nhiều.

Virus viêm gan B có trong máu, nước bọt, dịch mật, sữa mẹ và một số các dịch tiết của cơ thể. Tuy nhiên virus viêm gan B lây truyền chủ yếu theo đường máu thông qua tiêm truyền, quan hệ vợ chồng và đặc biệt là mẹ truyền cho con khi sinh đẻ. Để biết mình có mang virus viêm gan B hay không cần được làm xét nghiệm máu để tìm kháng nguyên bề mặt của virus (thường được gọi là xét nghiệm HbsAg).

Bệnh viêm gan B và thai nghén những bà mẹ nên quan tâm

Người có thai bị viêm gan virus B thì chức năng gan sẽ bị suy giảm thêm khiến cho sức khỏe của cơ thể càng giảm sút. Tình trạng đó sẽ ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng thai nhi khiến cho thai dễ bị suy dinh dưỡng, dễ bị sảy thai, đẻ non và bản thân thai nhi cũng có thể bị nhiễm virus từ mẹ sang ngay khi còn ở trong tử cung qua rau thai (tuy nhiên không nhiều vì bản thân rau thai là một hàng rào có tác dụng ngăn chặn mọi tác nhân gây bệnh đi vào thai khá hiệu quả) và nhiều nhất là trong quá trình sinh nở.

Ngược lại, với những ảnh hưởng của thai nghén đối với viêm gan sẽ làm cho bệnh nặng hơn, chức năng gan bị suy giảm, có thể dẫn đến biến chứng nặng nhất của viêm gan là teo gan, khiến cho giảm sút thậm chí mất hết các yếu tố đông máu, hoặc làm cho băng huyết không cầm được khi sảy hoặc đẻ. Cơ thể cũng không còn khả năng chống độc nên dẫn đến hôn mê do nhiễm độc gan.

Kinh nghiệm theo dõi viêm gan tiến triển trong giai đoạn chuyển dạ hoặc sảy, đẻ non ở các cơ sở sản khoa đều cho thấy sản phụ bị viêm gan virus B vào những giai đoạn này có tỷ lệ tử vong rất cao và nguyên nhân tử vong thường gặp là tình trạng băng huyết do mất các yếu tố đông máu và tình trạng hôn mê gan do gan mất chức năng chống độc.

Phòng và điều trị


Ở nước ta, tình hình nhiễm viêm gan siêu vi B ở phụ nữ có thai chiếm tỷ lệ khoảng từ 10-13%. Ðể ngăn ngừa nguy cơ mẹ bị nhiễm bệnh rồi truyền cho thai nhi khi mang thai, các bà mẹ nên lập hs quản lý thai trước khi sinh, kiểm tra sức khỏe thaisiêu âm thai định kỳ để hiểu rõ tình trạng sức khỏe của mẹ và bé. Nếu phụ nữ bị nhiễm siêu vi viên gan B và mang thai thì sự lây truyền bệnh sang thai nhi phụ thuộc vào thời điểm nhiễm bệnh của mẹ và kết quả phản ứng huyết thanh.

Về thời điểm nhiễm bệnh của sản phụ
Sản phụ bị bệnh ở quý I thai kỳ thì tỷ lệ truyền bệnh là 1%.
Sản phụ bị bệnh ở quý II thai kỳ thì tỷ lệ truyền bệnh là 10%.

Sản phụ bị bệnh ở quý III thai kỳ thì tỷ lệ truyền bệnh là 60-70%.

Về kết quả xét nghiệm huyết thanh

Bệnh viêm gan B và thai nghén những bà mẹ nên quan tâm
Mẹ có HBsAg (+) và HBeAg (+), tỷ lệ truyền bệnh 90-100%.
Mẹ có HBsAg (+) và HBeAg (-), tỷ lệ truyền bệnh 20%.
Cần phải biết là nguy cơ truyền bệnh cho thai nhi có thể lên tới 90% nếu không có biện pháp bảo vệ ngay sau khi sinh, 50% số trẻ này sẽ bị viêm gan mãn tính và có nguy cơ bị xơ gan lúc trưởng thành. Tỷ lệ trẻ bị viêm gan B cấp ngay sau khi sinh là 5-7% và không có biểu hiện triệu chứng. Cơ chế lây bệnh lúc sinh và sau sinh chưa rõ ràng (có thể qua nhau thai khi chuyển dạ?) vì thế can thiệp bằng phẫu thuật cũng không ngăn chặn được sự lây lan bệnh. Sự truyền bệnh trong tử cung (từ mẹ sang con) là một trường hợp ngoại lệ.

Việc nhiễm viêm gan siêu vi B ở sản phụ có thể xảy ra trước khi có thai hoặc đang mang thai (trường hợp này ít gặp). Việc có thai không phải là yếu tố làm cho bệnh viêm gan siêu vi B ở mẹ nặng lên mà ngược lại siêu vi B không gây ảnh hưởng xấu cho tiến trình mang thai cũng như cho bào thai. Việc mang thai tiến triển bình thường, thai nhi phát triển tốt và không có nguy cơ bị dị dạng thai nhi. Chỉ khi sản phụ bị viêm gan siêu vi B nặng ở quý III của thai kỳ thì mới có nguy cơ sinh non.

Hiện nay nước ta đã sản xuất được vaccin tiêm phòng bệnh viêm gan virus B và vaccin này đã được đưa vào Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia cho tất cả trẻ em dưới 1 tuổi theo lịch như sau:

Mũi 1: sơ sinh (tiêm càng sớm càng tốt).

Mũi 2: khi trẻ được hai tháng tuổi.

Mũi 3: khi trẻ được 4 tháng tuổi.

Tuy nhiên đối với các trẻ mới sinh từ các sản phụ mang virus viêm gan B thì ngay sau khi đẻ ra cần tiêm cho trẻ một mũi huyết thanh HBIG (là một loại globulin miễn dịch có tác dụng trung hòa virus viêm gan B), rồi sau đó tiêm phòng cho trẻ vaccin phòng viêm gan B càng sớm càng tốt theo lịch trên. Nếu trẻ đã được bảo vệ bằng huyết thanh và vaccin thì vẫn cho trẻ bú mẹ vì sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất.

Huyết thanh (HBIG) có kháng thể chống viêm gan B nhằm diệt các virus viêm gan B có thể đã nhiễm vào cơ thể trẻ trong quá trình chuyển dạ và sinh nở, còn vaccin phòng viêm gan B là để kích thích hệ miễn dịch của trẻ sinh ra kháng thể chống lại virus viêm gan B, phòng khi sau này rủi ro bị nhiễm. Chỉ lưu ý, nếu tiêm huyết thanh và vaccin cùng một ngày thì vị trí tiêm nên xa nhau (ví dụ hai bên bắp tay, hoặc hai bên đùi) để bảo đảm tác dụng của thuốc.

Với người trưởng thành và các bà mẹ mang thai cũng nên tiêm phòng vaccin này nếu sau khi làm xét nghiệm HbsAg có kết quả âm tính. Ngoài việc tiêm phòng vaccin viêm gan virus B, cần căn cứ vào đường lây truyền của virus như đã nói ở trên để tránh bị lây nhiễm như khi tiêm, chích, rạch… nhất thiết các dụng cụ phải được vô khuẩn tuyệt đối, không dùng chung bơm kim tiêm và dụng cụ. Phải bảo đảm an toàn trong sinh hoạt tình dục. Bao cao su không chỉ có tác dụng tránh thai, mà còn có tác dụng ngăn ngừa lây nhiễm HIV và virus viêm gan B.

Điều quan trọng nhất các bà mẹ trước khi có ý định sinh con nên đến khám sức khỏe để phòng tránh những bệnh truyền nhiễm không mong muốn sảy ra. Hy vọng bài viết này của phòng khám Sinh Anh sẽ giúp bạn chăm sóc sức khỏe của mình và bé tốt hơn.

Phòng khám Sản, phụ khoa Anh Sinh

Địa chỉ: 64A nguyễn Duy Trinh – P. Hưng Dũng – TP Vinh ( Gần sân bóng Hưng Dũng)

Hotline: 0961354777

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *